|
DẪN NHẬP
Trong tim mỗi người Việt Nam, ai ai cũng đều khắc ghi những hình bóng thân thương của quê hương và những kỷ niệm ngọt ngào của thủa thiếu thời: từ đình làng, ngôi chùa, cây đa, bến nước đến tiếng chuông thu không bãng lãng buổi chiều tà, tiếng trống cơm rộn ràng vào dịp Trung Thu hay tiếng pháo hồng tưng bừng mỗi độ xuân về . . . Nhưng đã có bao làng xã đã biến thành phố hội trong quá trình đô thị hóa, bao khoảng không gian xưa bị lấn át để nhường chỗ cho những tòa nhà hiện đại và bao nét đẹp văn hóa cổ truyền bị chìm dần trong lối sống vội vã đến quay cuồng của thời công nghiệp hóa. Ước gì trở lại ngày xưa xinh đẹp ấy để thấy cây có cội, nước có nguồn. Hốt nhiên nghĩ về cội nguồn nên tôi kính cẩn mà viết tập tài liệu nhỏ về lịch sử đình Nại Hiên và chùa An Long, nơi tôi đã gắn bó suốt cả tuổi thơ hồn nhiên, để lưu lại chút gì của quá khứ, kẻo mai này sợ rằng chúng ta thoảng nhớ thoảng quên. Dẫu thời gian có thể phủ một lớp bụi mờ làm nhòe đi ký ức, dẫu dòng đời có thể cuốn ta đi đâu về đâu, mặc lòng, bởi khi tiếng lòng thổn thức ta lại bỗng nhớ về ngày xưa qua từng câu chuyện vọng về từ tổ tiên:
“Trăm năm bia đá cũng mòn
ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”
Tôi xin trân trọng cảm ơn bà Nguyễn Thị Nghĩa, Hòa thượng Thích Minh Tuấn, các ông Nguyễn Thanh Định, Nguyễn Dục Anh đã cung cấp nhiều thông tin và tư liệu quý giá; xin chân thành biết ơn các ông Nguyễn Thanh Định, Đinh Trọng Tuyên, Đặng Văn Sở, Nguyễn Quang Trúc, Nguyễn Thanh Ngọc, Nguyễn Dục Anh, Nguyễn Thanh Nghị, Đại đức Thích Đồng Nghĩa đã đọc bản thảo và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tập tài liệu này.
Vì tôi đã sống ở làng Nại Hiên từ thủa thiếu thời nên chắc chắn là ý kiến chủ quan của riêng tôi - không tránh khỏi phát sinh từ thói quen của cá nhân - thỉnh thoảng len lỏi một cách vô thức vào trong các trang của tập tài liệu này. Tuy thế, tôi đã cố gắng khách quan với một thái độ nghiêm túc, chỉ để các sự kiện tự lên tiếng và ghi chú nguồn thông tin của mỗi sự kiện. Không có biến cố, hình ảnh hoặc lời trích dẫn nào được tưởng tượng ra, tất cả đều dựa trên tài liệu, lời kể của nhân chứng hoặc do chính tôi trực tiếp quan sát. Trong trường hợp có sự phỏng đoán nào đấy mà thiếu tài liệu căn cứ, tôi đều ghi rõ. Dưới đây là danh sách liệt kê các nguồn tham khảo:
- Di cảo của cụ Nguyễn Đình Liệu (lịch sử làng Nại Hiên, đình Nại Hiên, chùa An Long và gia phả tộc Nguyễn Thanh) do ông Nguyễn Dục Anh (cháu nội đích tôn của ông Nguyễn Đình Liệu) cung cấp
- Tư liệu về đình và chùa do ông Nguyễn Thanh Định cung cấp
- Phỏng vấn bà Nguyễn Thị Nghĩa, thứ nữ của cụ Nguyễn Đình Liệu
- Phỏng vấn Hòa thượng Thích Minh Tuấn, Viện chủ Thiền viện Bồ Đề, Đà Nẵng
- Chùa Long Thủ ở Đà Nẵng, La pagode Long Thu à Tourane, Bulletin des Amis du Vieux Huê, vol 7, n0 3, p. 341 - 348, tác giả Henri Cosserat
- Văn bia chùa Long Thủ, sách Quảng Nam và những vấn đề sử học - Nxb Văn hóa Thông tin, tác giả Nguyễn Sinh Duy
- Phủ Biên Tạp Lục - Tủ sách Cổ văn - Lê Quý Đôn
- Quốc Triều Sử Toát Yếu - Nxb Văn học - Cao Xuân Dục
- Đại Nam Thực lục Chính biên - Quốc sử quán triều Nguyễn
10. Lịch sử Thành phố Đà Nẵng - Nxb Đà Nẵng
11. Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam - Nxb Đà Nẵng, tác giả Nguyễn Sinh Duy
CHƯƠNG 1
Lịch sử đình Nại Hiên và chùa An Long
1.1 Quá trình hình thành đình Nại Hiên và chùa An Long
Năm 1471 (Hồng Đức thứ 2), trên đường ngự giá đánh Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông đã cho thuyền đậu tại cửa Hàn. Tương truyền, lúc dừng chân tại đây, vua đã cho quân lính đi tìm nước ngọt và họ đã tìm thấy một bộng nước rất ngọt và trong trên dải đất Cồn Dài nằm bên tả ngạn sông Hàn. Đức vua cùng quân lính đã dùng nước ở đây để uống và mang theo dùng trong chặng hành trình còn lại.
Sau chiến thắng, vua Lê Thánh Tông đã cho sát nhập lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân đến bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Năm 1474 (Hồng Đức thứ 5), vua Lê Thánh Tông đã ban chiếu chỉ mở mang bờ cõi từ Thuận Hoá vào Quảng Nam và cho đưa dân từ Thanh - Nghệ vào đây khẩn hoang. Vào năm đó, cùng với đoàn người nam tiến, có hai nhóm người ở huyện Tĩnh Gia (tỉnh Thanh Hoá), nhóm đầu gồm 12 vị (Tiền Hiền) và nhóm sau gồm 8 vị (Hậu Hiền), đã vào khai khẩn rồi định canh định cư dọc theo hai bên bờ sông Hàn.
Khi cuộc sống đã an định, các vị Tiền - Hậu Hiền quyết định lập làng và đặt tên làng là Nại Hiên (Nại là muối, Hiên là mái hiên). Từ Thanh Hoá, các vị Tiền - Hậu Hiền đã đem theo nghề làm muối truyền thống của ông cha đến vùng đất mới. Ở làng Nại Hiên bây giờ vẫn còn truyền tụng một câu ca dao xưa:
“Nại Hiên là làng ý e
Nấu muối bằng nước lấy tre làm nồi”
Cách làm muối của làng Nại Hiên là hết sức đặc sắc. Cật tre được đan thành nồi, trát đất sét rồi đem nung khô. Sau đó, dân làng lấy nước mặn từ cửa Hàn cho vào nồi tre nấu đến khi muối được kết tinh như cách làm của dân xứ Thanh thuở trước.
Thủa ban đầu, các vị Tiền - Hậu Hiền đến khai khẩn đất Cồn Nhạn (xem phụ lục A) nằm về phía hữu ngạn sông Hàn (bờ Đông sông Hàn, nên còn gọi là xứ Đông Giang - Nại Hiên Đông). Sau đó lần lượt dời về phía tả ngạn sông Hàn (Cồn Dài, Cồn Chùa ở bờ Tây, gọi là xứ Tây Giang - Nại Hiên Tây), xuống phía Nam (Cồn Hàu, Bến Trể, Cồn Mắm, Cồn Nổi, Cồn Dừa và Cồn Bồi ở phía Nam, gọi là Nại Hiên Nam - Nại Nam) và lên phía Bắc (Nại Hiên Bắc ở mạn Nam Ô). Làng Nại Hiên lúc bấy giờ bao gồm bốn xứ Đông, Tây, Nam, Bắc.
Chính trên dải đất Cồn Dài ở làng Nại Hiên Tây, nơi mà quân lính của vua Lê Thánh Tông đã tìm ra bộng nước ngọt thủa xưa, con cháu của các vị Tiền - Hậu Hiền đã chọn một nơi cao ráo nhất để dựng một ngôi đình làng chung cho cả bốn xứ - gọi là đình Nại Hiên (vị trí đình Nại Hiên xưa - đình lớn - bây giờ là đài phun nước trước Cổ Viện Chàm), một nhà thờ Tiền - Hậu Hiền (nay là đình Nại Hiên - đình nhỏ) và một ngôi chùa, đặt tên là An Long Tự.
Chư phái tộc làng cũng sử dụng khoảnh đất ngay phía sau nhà thờ Tiền - Hậu Hiền và chùa An Long để làm nơi an nghỉ cho những người trong làng một khi khuất bóng, gọi là nghĩa trang Lâm Cấm (vị trí của nghĩa trang Lâm Cấm xưa bây giờ là Cổ Viện Chàm). Từ đó, mảnh đất nơi dựng chùa An Long, đình làng Nại Hiên (đình lớn), nhà thờ Tiền - Hậu Hiền (đình nhỏ) và nghĩa trang Lâm Cấm được dân làng gọi là Cồn Chùa.
Trên miệng bộng nước ngọt thủa xưa, dân làng cũng đã xây một cái giếng bằng đá sa thạch (từ những phiến đá có kích thước 0.50m x 0.50m x 2m, hiện vẫn còn nằm dưới đất, phần bằng gạch ở phía trên được xây vào năm đầu niên hiệu Thành Thái sau này), gọi là giếng Bộng (hiện giếng nằm cạnh trường Mẫu giáo Ánh Hồng, đường Trưng Nữ Vương). Nước múc từ giếng Bộng nổi tiếng là trong lành và ngọt mát. Từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XX, giếng Bộng là nơi cung cấp nuớc cho dân làng và những chiếc ghe bầu buôn muối ghé qua. Từ năm 1960 đến nay, mạch ngầm nước của giếng bị ô nhiễm trầm trọng trong quá trình đô thị hóa, nên giếng không còn được sử dụng.
Như vậy, đình Nại Hiên và ngôi chùa An Long đã được xây dựng cùng với quá trình hình thành và phát triển của cư dân làng Nại Hiên. Dù chưa xác định chính xác năm nào, nhưng ta có thể ước định đình Nại Hiên và ngôi chùa An Long được dựng lên từ thế kỷ XVI.
|